[Con đường nước Anh] Kỳ 7: Học kiến trúc ở Vương quốc Anh khác học kiến trúc ở Việt Nam chỗ nào?

Bài viết này dựa trên kinh nghiệm học Thạc sỹ kiến trúc về Thiết kế môi trường ở Đại học Nottingham, 5 năm học kiến trúc bậc đại học và 2 năm học thạc sỹ kiến trúc tại Đại học Kiến trúc Hà Nội. Có thể nó sẽ có giá trị với nhiều ngành khác nữa chứ không riêng ngành kiến trúc. Mọi người, đặc biệt những người đang hành nghề kiến trúc hoặc làm công việc có liên quan xin hãy share giúp 🙂
1. Nghiên cứu tiền lệ (Precedent Study)
Bất cứ đồ án thiết kế chuyên nghiệp nào cũng có nghiên cứu tiền lệ. Sau khi nghiên cứu nhiệm vụ thiết kế, kiến trúc sư nghĩ xem mình cần thiết kế ra một không gian phục vụ công năng, mục đích, và tạo ra cảm giác nào, dựa vào đó mà tìm những tiền lệ về kiến trúc cũng đạt được những đặc điểm đó. Học tập từ những tiền lệ này rất quan trọng, vì kiến trúc là một môn nghệ thuật nhưng không thể là trò nói suông theo chủ quan của kiến trúc sư được. Ví dụ, khi nhận đồ án thiết kế một khu ở bền vững, tôi không vẽ bừa ra mấy cái nhà rồi bảo đó là nhà ở bền vững. Tôi phải lên mạng tìm kiếm xem ở vùng có khí hậu tương tự người ta làm như thế nào, phân tích cái hay cái tốt của họ ở đâu mà học tập. Nhà ở bền vững ở Nantes này là một ví dụ.

Ở Việt Nam, nghiên cứu tiền lệ không được coi là phần bắt buộc của đồ án, thậm chí còn bị coi là ăn cắp ý tưởng (ít nhất nó là vậy khi tôi vẫn còn học ở Đại học Kiến trúc Hà Nội) Thực tế, sinh viên luôn tham khảo các công trình kiến trúc trên thế giới rất nhiều mỗi khi có đồ án mới, nhưng chả anh nào dám đưa toẹt nó vào đồ án và nói rõ rằng “tôi muốn làm ra cái như thế này, nó được xây ở chỗ abc, nó có nhiều điểm hay và phù hợp ví dụ như xyz”. Còn ở châu Âu, chuyện minh họa đồ án như vậy là chuyện cơm bữa. Chính vì học từ tiền lệ như vậy nên họ mới vững, mới giỏi. Còn sinh viên ta không biết nghiên cứu tiền lệ nên (nói thẳng ra) chẳng tự tạo ra được kiến thức cho mình.
2. Quá trình phát triển thiết kế (Design Development)
Đây là một yêu cầu khác cũng rất quan trọng trong các đồ án. Các giáo sư cho rằng sinh viên phải trình bày được quá trình phát triển thiết kế để cho thấy phương pháp làm việc và tư duy kiến trúc của họ với tư cách một người học (chứ không phải một người đi làm). Quá trình phát triển thiết kế luôn chiếm khoảng ½ diện tích các trang báo cáo đồ án (tất nhiên, phần này có bao gồm các kết quả thiết kế quan trọng như mặt bằng, mặt cắt và giải pháp chủ đạo). Ví dụ: trong 4 tờ A1 tôi nộp kì trước, 2 tờ được dùng để minh họa các thành phần sau:
1. Nghiên cứu tiền lệ và nguồn cảm hứng thiết kế (cảm hứng cho không gian, cảm hứng cho vật liệu, cảm hứng cho hình khối, v.v…)
2. Ý tưởng hình khối và quá trình phát triển ý tưởng về hình khối.
3. Ý tưởng về không gian và dây chuyền không gian.
4. Ý tưởng về giải pháp thiết kế vi khí hậu và quá trình thử nghiệm – thiết kế để tối ưu giải pháp chi tiết cuối cùng.
Ở Việt Nam, sinh viên chủ yếu được yêu cầu minh họa thành quả cuối cùng, còn quá trình phát triển thiết kế thường khá hời hợt, hoặc thậm chí là phần không bắt buộc của đồ án. Đào tạo tư duy kiến trúc là mục tiêu cuối cùng của đào tạo kiến trúc sư. Nếu sinh viên không bắt buộc phải thể hiện quá trình tư duy này trong thể hiện đồ án, tôi cho rằng chương trình đào tạo đó đã thất bại hoàn toàn.
3. Thiết kế biện chứng (Evidence-based design)
Trong đào tạo cử nhân khoa học, phương pháp biện chứng – thực chứng là cốt lõi. Đào tạo kiến trúc sư ở các nước tiên tiến cũng vậy. Sinh viên được yêu cầu nghiên cứu tiền lệ và thí nghiệm, chứng minh giải pháp thiết kế bằng tiền lệ và thí nghiệm (trên mô hình vật lý hoặc máy tính) Các nghiên cứu cũng mang tính trường hợp cụ thể (case-specific). Cái quan trọng nhất không phải sản phẩm cuối cùng, mà là lượng kiến thức sinh viên tự tạo ra được qua quá trình tư duy nghiên cứu thực chứng như vậy. Đồng thời, cử nhân kiến trúc cũng có thể tự nghiên cứu hoặc tham gia hoạt động nghiên cứu khi ra trường một cách chuyên nghiệp.
Ở Việt Nam, sinh viên không hề có nhiệm vụ chứng minh thiết kế bằng những công cụ như trên. Quá trình học phương pháp cũng toàn là ngồi cày lý thuyết và nhồi đầu toàn câu chữ dạng tổng quát hóa mà không hề có tính cụ thể (case-specific) như nước người ta. Bảo sao sinh viên ra trường không biết mình đang vẽ ra cái gì. Còn nghiên cứu ư? Sau kết thúc khóa đào tạo cao học kiến trúc ở Việt Nam, tôi khẳng định chả ông nào trong lớp tôi biết nghiên cứu độc lập.
4. Ai cũng có khả năng, nhưng một số người nỗ lực hơn hẳn (Everyone is able, some just put much more effort)
Giáo viên ở đây làm việc với sinh viên trên quan điểm:
– Ai cũng có khả năng tư duy nhạy bén và sáng tạo (tốt) như nhau,
– Không ai là thiên tài và chúng tôi cũng không lo tư tưởng của mình sẽ làm thui chột thiên tài.
– Chúng tôi chỉ trích rất nghiêm túc và thẳng thắn với sinh viên. Sinh viên được góp ý hay phản biện nhiều vì anh ta đã nỗ lực tư duy và làm việc nhiều.
Một buổi duyệt đồ án ở đây kéo dài suốt 1 ngày (9h sáng đến 6h tối) và một giáo viên sẽ phản biện lần lượt cho 8 – 16 người của toàn bộ khóa học, tùy theo số lượng sinh viên. Giáo viên chỉ có 30 phút để nghỉ ngơi ăn trưa.
Ở Việt Nam, giáo viên không thẳng thắn và tận tụy bằng. Họ cũng có tâm lý nể sinh viên và cho rằng sinh viên cần có không gian tự do để sáng tạo bay bổng. Họ cho rằng: chỉ ở trong môi trường đại học sinh viên mới có cơ hội thử sức với các đồ án lớn như bảo tàng hay sân vận động, vì vậy không nên dùng kiến thức thực tế để phản biện sinh viên quá nhiều như vậy.
Tôi nghĩ: 300 – 400 sinh viên (mỗi khóa) ra trường làm được việc một cách bài bản, thực tế, và có trách nhiệm sẽ đóng góp được nhiều gấp vạn lần 3 – 4 anh kiến trúc sư thiên tài.
5. Thiết kế tích hợp
Đây không chỉ là xu hướng thiết kế phổ biến trong kiến trúc đương đại. Nền tảng lý thuyết và tư tưởng của nó thực chất là những gì mọi ngành vẫn hướng đến, và trên thực tế thì các cụ (dân gian) đã làm cả nghìn năm nay rồi. Nói đơn giản, thiết kế tích hợp là “làm được nhiều nhất mà ít tốn kém nhất”. Ví dụ:
– Thay vì dùng điều hòa nhiệt độ, người ta áp dụng nguyên tắc khí động học để thông gió tự nhiên. Cách phổ biến là stack vent – thông gió bằng cách tạo ra sự chênh lệch độ cao (từ đó gây ra chênh lệch áp suất).
– Thay vì phải xây thêm một cái ống thông để tạo ra stack vent, người ta tích hợp không gian này vào luôn cái giếng thang. Đặc biệt thích hợp với nhà ở căn hộ.
– Thay vì đặt thêm một đống pin năng lượng mặt trời trên mái (thực ra đặt được thêm ở đó nữa thì càng tốt), người ta tích hợp pin PV vào cửa sổ hoặc lan can kính.
– Thay vì phải tạo ra hệ chắn nắng riêng, người ta dùng các cấu kiện cơ bản như ban công hoặc chính hình khối của công trình để chắn nắng và đón nắng khi cần.
Tóm lại, thiết kế càng đơn giản càng được đánh giá cao và không phải vì cần cái A nên tôi bổ sung cái A’, cần cái B nên lại bổ sung cái B’. Các đồ án được điểm cao luôn là đồ án có giải pháp kiến trúc mạch lạc và đơn giản, gọn gàng. (Khoe tí, đồ án mới nhất của tôi được điểm 85% trong lần phản biện 2 vì giải pháp đơn giản và hiệu quả lại còn thể hiện chuyên nghiệp, hehe 😀 )
Ở Việt Nam, việc tư duy tích hợp và linh hoạt như vậy là rất phổ biến. Chẳng hạn, trồng cái cây trước hiên nhà không chỉ để tạo cảnh quan hay chắn nắng mà còn để cho quả. Hoặc, khi làm nhà người ta bắt đầu trồng bụi tre để làm rào bảo vệ; đến khi con trai lấy vợ, tre đã đủ lớn để chặt về làm nhà.
Có điều, tư duy tích hợp của người Việt rất manh mún, lại không được giới chuyên môn hệ thống hóa để vận dụng vào thực tế. Nghiên cứu khoa học được thế giới công nhận lại nghèo nàn. Tôi tìm tài liệu trên sciencedirect.com để làm luận văn tốt nghiệp mà mãi mới có được 1 bài báo khoa học về “thermal performance in vernacular housing in Vietnam”.
Ở các khoa kiến trúc ở Việt Nam, giáo viên cũng đánh giá cao sự đơn giản, nhưng thường là sự đơn giản về hình khối hay không gian. Hiệu quả công năng và kĩ thuật tích hợp trong đó chả mấy khi được quan tâm đánh giá, cũng không được lượng hóa hay chứng minh.
Tóm lại, nếu không đưa nghiên cứu và thiết kế thực chứng vào chương trình đào tạo kiến trúc sư, thì hầu hết kiến trúc sư mới ra trường vẫn cứ là những ông tư duy ngớ ngẩn, lười học và lười nghiên cứu, chỉ giỏi nói suông chém gió một tấc đến giời.
Advertisements

2 Comments

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s