Chuẩn bị du học 1: Bảng xếp hạng không phải la bàn vàng

Tôi đích thị là một đứa ưa danh vọng phù phiếm. Thế nên khi Archdaily đăng lại Bảng xếp hạng 100 trường kiến trúc tốt nhất thế giới của Quacquarelli Symonds, tôi phải cắm đầu vào ngay xem Đại học Nottingham đứng ở đâu.

Ơ kìa cái gì mà No. 80, tụt hạng à?

Tụt hạng là đúng rồi còn gì nữa? University of Nottingham được mấy ai biết, làm sao so với Columbia University hay Stanford University chễm chệ ở vị trí 12 với 23. Dưới Top 50 còn đó New York University hơn trường Nottingham cả chục bậc. New York nổi tiếng hơn Nottingham, cự cãi gì?

Nhưng sự thật nó không như vậy :v

Cả Columbia University, Stanford University, và NYU đều không có School of Architecture. Columbia không có khóa học kiến trúc bậc cử nhân, chỉ có Thạc sỹ Kiến trúc. NYU cũng chỉ có duy nhất 1 khóa dính dáng đến kiến trúc là Thạc sỹ Thiết kế Đô thị và Nghiên cứu Kiến trúc. Bi hài nhất, ở Stanford, chương trình duy nhất có liên quan đến kiến trúc là Bachelor of Science in Engineering with a specialization in Architectural Design.

Chuyện gì đã xảy ra với QS rankings?

Theo Telegraph, 3 bảng xếp hạng trường đại học thế giới được nhiều lượt theo dõi nhất là QS World University Rankings (QS), THE World University Rankings (THE), và Academic Ranking of World Universities (ARWU). 3 bảng này có phương pháp thu thập dữ liệu và đánh giá rất khác nhau. [1]

Về dữ liệu:

  • QS và THE đều thu thập thông tin về đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu, cơ sở vật chất, số lần được trích dẫn nghiên cứu, v.v. do các trường cung cấp, cùng với dữ liệu từ các cuộc khảo sát uy tín (reputation survey) với người tham gia khảo sát là các học giả và nhà tuyển dụng.
  • ARWU chỉ thu thập các dữ liệu liên quan đến thành tích nghiên cứu như: số lượng cựu sinh viên được giải Nobel và Fields, số lượng giải Nobel và Fields của trường, số lượng nhà nghiên cứu thường xuyên được trích dẫn, số lượng bài báo khoa học được đăng trên Nature và Science, chỉ số bài báo khoa học, v.v.

QS và THE thường được quan tâm hơn hẳn ARWU. Nguyên nhân rất dễ hiểu: việc nghiên cứu không phải là ưu tiên hàng đầu của tất cả các sinh viên. Mục tiêu quan trọng nhất của nhiều người vẫn là thu thập kiến thức và kĩ năng để đầu quân trong công nghiệp.

Về trọng số trong đánh giá:

  • QS ưu tiên uy tín của trường. Uy tín đối với giới học thuật và nhà tuyển dụng chiếm tới 50% trọng số khi xếp hạng. [2]
  • THE ưu tiên khả năng giảng dạy và nghiên cứu được đánh giá qua thông tin trường cung cấp. Các chỉ số như số lượng trích dẫn nghiên cứu, thu nhập từ nghiên cứu, hoặc số lượng nghiên cứu được công bố tính trung bình trên mỗi thành viên của khoa, chiếm tới 57% trọng số. [3]
  • ARWU chia khá đều trọng số cho các tiêu chí, nhưng tóm lại đều chỉ xoay quanh khả năng nghiên cứu. [4]

Như vậy, THE có vẻ sẽ đưa ra kết quả chính xác hơn về mặt khả năng truyền đạt kiến thức và nghiên cứu. Trong khi đó QS thể hiện được chính xác hơn “sức nặng” của một cơ sở đào tạo trong mắt nhà tuyển dụng và cơ sở đào tạo khác. Còn ARWU chỉ hoàn toàn thể hiện sức mạnh nghiên cứu của các trường trong mối tương quan so sánh. Sự khác biệt này là rất cần thiết vì tiêu chí chọn trường và ưu tiên của sinh viên rất khác nhau.

Các ưu điểm ngoài hệ thống xếp hạng chính:

  • QS có các bảng xếp hạng riêng lẻ theo 42 bộ môn (subject), 5 khoa (faculty), vùng (region), và khả năng được tuyển dụng (employability). Vì vậy việc tra cứu phục vụ nghiên cứu ngành hẹp hoặc tìm cơ hội việc làm rất tiện.
  • THE cũng có bảng tra theo bộ môn nhưng chỉ là đưa bộ môn thành một filter trong bảng xếp hạng chung, chứ không xếp hạng theo chất lượng đào tạo bộ môn đó.
  • THE cũng đưa ra các bảng xếp hạng chi tiết như xếp hạng khả năng được tuyển dụng, hoặc Alma Mater Index, tuy số lượng trường được đưa vào bảng khá hạn chế (khoảng 150 trường).

Hạn chế:

  • QS dựa trên kết quả khảo sát uy tín. Mà khảo sát uy tín dựa trên hiểu biết và cảm tính của người được hỏi. Sai sót từ đó mà phát sinh (như đã thấy ở trên) [5]
  • THE cũng có khả năng sai sót tương tự QS vì 33% trọng số nằm ở kết quả khảo sát uy tín.
  • Các trường chỉ chuyên về 1 lĩnh vực lớn sẽ không được xét ở QS. QS chỉ đánh giá các trường cung cấp khóa học ở cả bậc đại học và sau đại học, và giảng dạy ít nhất 2 trong số 5 lĩnh vực lớn: nghệ thuật và nhân văn, kĩ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và quản lý, khoa học tự nhiên, khoa học sự sống và y học. Nếu chỉ dựa vào QS, sinh viên hoàn toàn có khả năng bỏ qua những trường rất tốt và phù hợp. Ví dụ: Architectural Association School of Architecture là trường kiến trúc tốt nhất thế giới nhưng sẽ không bao giờ nằm trong xếp hạng của QS hay THE.
  • Các trường chỉ đào tạo bậc cao học hoặc tập trung vào đào tạo kĩ năng nghề nghiệp sẽ không được liệt kê trong THE. Lý do: THE không đánh giá các trường không dạy bậc đại học. Các trường không cho ra lò đủ lượng nghiên cứu nhất định cũng sẽ không được xếp hạng. BPP University là một ví dụ.
  • QS và THE có thể khiến người tra cứu hiểu sai về khả năng giảng dạy và nghiên cứu của các trường đại học nhỏ và trẻ. “Các trường đại học có quy mô nhỏ thường là các trường đại học trẻ”, có thể có đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu tốt, nhưng không thể tích lũy được lượng bài báo khoa học và trích dẫn nghiên cứu nhiều như các trường đại học lâu đời.[5] Mà trọng số của hai tiêu chí này lên tới 36% ở THE. Hạn chế này cũng xuất hiện ở QS nhưng ít nghiêm trọng vì trọng số của 2 tiêu chí chỉ là 20%.
  • Khả năng truyền đạt kiến thức hoàn toàn bị bỏ qua ở ARWU. Chỉ báo của ARWU cũng có phần cực đoan. Nobel và Fields là những giải thưởng danh giá bậc nhất, với số lượng người nhận giải rất ít so với tổng số hơn 16,000 trường đại học trên thế giới [5]. Nếu chỉ dựa vào các giải thưởng này để so sánh, sự phân hóa khả năng nghiên cứu của mỗi trường sẽ không rõ ràng. Các trường đại học trẻ cũng ít có cơ hội được đánh giá đúng.

Như vậy, các điểm cần lưu ý khi tra cứu bảng xếp hạng là:

  1. Bộ tiêu chí đánh giá của các bảng xếp hạng rất khác nhau. Rất thường xuyên, bộ tiêu chí đó không trùng với nhu cầu và ưu tiên của người tra cứu.
  2. Các bảng xếp hạng đưa ra được so sánh tương quan giữa các trường theo tiêu chí chung và riêng, chứ không thể chỉ ra rằng trường nào tốt hay phù hợp. Ví dụ, theo QS, Đại học Edinburgh (phát âm là /ˈɛdɪnbərə/ “E-đưn-b(ờ)-rờ” nhé) có uy tín hơn Johns Hopkins trong mắt nhà tuyển dụng (95 so với 64.7), nhưng lại có số lượng trích dẫn khoa học tính theo trung bình bộ môn thấp hơn Johns Hopkins (61.7 so với 81.8). Thực ra 2 trường này đều có chất lượng nghiên cứu và học thuật rất tốt và không thể chỉ dựa vào QS hay THE để lựa chọn.

Cách sử dụng bảng xếp hạng hiệu quả:

  1. Hiểu rõ nhu cầu, ưu tiên, và khả năng của mình khi chọn trường. Thường trên facebook group “Hội những người sắp đi UK”, mọi người sẽ hỏi nhau: “Mọi người ơi em đang tìm trường nào rank cũng được, không thấp quá nhưng cũng không cao quá để học không vất vả, còn dành thời gian đi làm thêm (thường là các công việc vặt như rửa bát, phục vụ) và du lịch.” Rõ ràng họ có nhu cầu nhưng không biết sắp xếp ưu tiên. Ưu tiên đi chơi cũng được, đi học cũng được, nhưng phải xác định ưu tiên cái này thì buông cái khác.

“At college (university) there are social life, sleep, good grades. Choose two.”

  1. Có hiểu biết đủ sâu về một trường nào đó để lấy đó làm điểm tham chiếu

Đơn giản nhất là hỏi đứa bạn nào đó có background gần giống mình và đã học ở trường đó xem học hành có thuận lợi và khó khăn gì.

Ngoài ra, cần tìm hiểu thông qua các giáo sư và cựu sinh viên. Chỉ cần gửi mail và biết cách hỏi đúng cái cần hỏi :v (hỏi cái gì thì quay lại mục 1 – biết nhu cầu, khả năng, và ưu tiên của mình)

Để tìm hiểu về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất, cách chính xác nhất đương nhiên là đến tận nơi tìm hiểu, quan sát, nói chuyện với giáo viên, hoặc đi nghe thuyết trình về các chương trình học, thậm chí xin tham gia các summer workshop. Cách này chính xác nhưng tốn kém.

  1. Chỉ sử dụng bảng xếp hạng để “khoanh vùng” lựa chọn.

Hồi tìm trường ở Anh, tôi khoanh vùng các trường cùng lúc nằm trong top 100 của QS, top 200 của THE, và top 100 của QS by subject. Sau đó tìm các trường có khóa học đúng chuyên ngành mình cần, và thấy được mấy trường UCL, University of Edinburgh, University of Liverpool, University of Nottingham, và University of Manchester. Vì Chevening cho phép chọn tối đa 3 trường nên tôi chọn Edinburgh, Nottingham, và Liverpool.

  1. Tránh mấy lỗi dưới đây.

Các lỗi thường gặp khi sử dụng các bảng xếp hạng để chọn trường: [6]

  1. Sử dụng bảng xếp hạng như thể nó phản ánh chính xác và toàn diện tình hình tương quan giữa các trường.

Bảng xếp hạng nào cũng có hạn chế đáng kể (như đã nói ở trên). Dựa vào thứ tự xếp hạng để ra quyết định cuối cùng là không hề khôn ngoan. Các thông tin từ giáo sư và cựu sinh viên đáng để tham khảo hơn nhiều.

  1. Quá chú trọng vào chênh lệch thứ hạng mà quên đi chênh lệch về điểm.

Trên thực tế, nhiều trường có thể chênh nhau một vài bậc trên bảng xếp hạng, nhưng khoảng cách về khả năng giảng dạy và nghiên cứu là không lớn (phản ánh qua điểm đánh giá). Thứ hạng của mỗi trường có thể lên hoặc xuống 3 – 5 bậc mỗi năm là chuyện rất bình thường. Không nên vì chênh lệch vài bậc giữa trường A và trường B mà ưu tiên trường có thứ hạng cao hơn.

  1. Cho rằng phương pháp xếp hạng đương nhiên phù hợp với ưu tiên và nhu cầu của bản thân

Như đã nói, mỗi bảng xếp hạng có tiêu chí và ưu tiên riêng. Việc đầu tiên khi xem bảng xếp hạng là đọc phương pháp (methodology) của nó.

  1. Cảm thấy thất vọng khi không thể vào/tìm được trường trong top 10/top 20 phù hợp với mình

Hiển nhiên, có nhiều trường đại học danh tiếng, có tài nguyên con người và cơ sở vật chất rất tốt, mặc dù đứng dưới top 100, thậm chí 200. Những trường top 10 chưa hẳn đã lựa chọn phù hợp nhất. Vì thế đừng tự đóng cơ hội của mình chỉ vì danh tiếng hay danh giá.

  1. Bỏ qua bảng xếp hạng theo bộ môn (miễn bình luận)

Tóm lại, bảng xếp hạng các trường đại học không phản ánh bức tranh toàn cảnh thế giới học thuật, càng không phải la bàn để định hướng chọn trường. Đừng để mình “tuyệt vọng” đến mức phải đưa thứ hạng của trường vào Statement of Purpose như một lý do chọn trường. That doesn’t help.

(This post is to be updated with FAQs. I would appreciate any question on this issue so please feel free to leave your comments)

Tài liệu tham khảo

[1] A. Marszal, “University rankings: which world university rankings should we trust?,” 4 October 2012. [Online]. Available: http://www.telegraph.co.uk/education/universityeducation/9584155/University-rankings-which-world-university-rankings-should-we-trust.html. [Accessed December 2016].

[2] QS Staff Writer, “QS World University Rankings Methodology,” Quacquarelli Symonds Ltd., September 2016. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/qs-world-university-rankings/methodology. [Accessed December 2016].

[3] Times Higher Education, “World University Rankings 2016-2017 methodology,” Times Higher Education, September 2016. [Online]. Available:
https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/methodology-world-university-rankings-2016-2017. [Accessed December 2016].

[4] L. Bridgestock, “World University Ranking Methodologies Compared,” Quacquarelli Symonds, September 2016. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/university-rankings-articles/world-university-rankings/world-university-ranking-methodologies-compared. [Accessed December 2016].

[5] M. B. Gokcen Arkali Olcay, “Is measuring the knowledge creation of universities possible?: A review of university rankings,” Technological Forecasting & Social Change, 2016.

[6] M. Frot, “5 Common Mistakes to Avoid When Using University Rankings,” Quacquarelli Symonds Ltd., August 2016. [Online]. Available:
http://www.topuniversities.com/blog/5-common-mistakes-avoid-when-using-university-rankings. [Accessed December 2016].

Advertisements

About Long D. Hoang

* Chevening Scholar 2015 - 2016. * Master of Architecture in Environmental Design, University of Nottingham.
This entry was posted in Chuẩn bị du học, scholarship. Bookmark the permalink.

7 Responses to Chuẩn bị du học 1: Bảng xếp hạng không phải la bàn vàng

  1. Mei says:

    cho mình hỏi là sau khi xin được học bổng thì được thoải mái chọn trường có ngành mình theo học ah bạn? học bổng của chính phủ Úc có như vậy không ạ?

    Like

    • Long D. Hoang says:

      Còn tùy học bổng. Đa số đều phải nêu rõ khoá học và trường sẽ học trong hồ sơ xét học bổng, bởi vì một phần quan trọng trong hồ sơ thường là câu trả lời “tại sao lại là khoá học đó, trường đó”. Có Fulbright không yêu cầu như vậy, nhưng khi được học bổng rồi lại không được chọn trường thoải mái.

      Like

  2. Pingback: Mục l | Long D. Hoang

  3. Pingback: Mục lục | Long D. Hoang

  4. Phat says:

    Em chào anh!
    Tìm mãi mới được bài viết chất lượng và cùng chí hướng như thế này. Em thấy anh cũng học Thạc sỹ ở Nottingham chưa thấy anh đề cập đến các bảng xếp hạng của các tổ chức ở Anh như là The Guardian, The Complete University Guide hay Good University Guide. Em thấy mấy bảng xếp hạng này tập trung nhiều hơn về phía trải nghiệm của sinh viên và cái này thì em vẫn ưu tiên hơn tất nhiên là sau tiêu chí chất lượng đào tạo và danh tiếng. Tuy nhiên thì chưa biết mức độ uy tín thì như thế nào và còn thấy bị ném đá ở một số threads trên mạng xã hội.
    Em cũng định đi du học bậc Thạc sỹ về Tài chính ở Anh vào kỳ nhập học tháng 9 tới ạ!

    Like

    • Long D. Hoang says:

      Anh chưa nghiên cứu các bảng xếp hạng trong nước. Nhưng theo nguồn tin đáng tin cậy của bạn anh, các mẫu hỏi của UK league table đều dành cho undergrad students, nên có thể tham số về student satisfaction không phản ánh đúng chất lượng đào tạo bậc postgrad. The Guardian đúng là có tai tiếng, đại loại kiểu bullshit.
      Thạc sỹ Tài chính ở Anh thì chuẩn rồi em 😀

      Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s