Đọc và biết đọc

Đọc

Hôm trước tôi đọc được chuyện của một bạn người Việt Nam đã học ở Oxford. Năm 2015, bạn ấy “vô cùng thất vọng” trước thông tin Chevening không chấp nhận ứng viên chưa đủ 2 năm kinh nghiệm sau tốt nghiệp.

Tôi có thể chắc chắn với tư cách một người đã được học bổng này, rằng từ năm 2014 cho đến nay, Chevening cho phép tính cả kinh nghiệm làm việc trước khi tốt nghiệp vào tổng thời gian kinh nghiệm. Lúc đó bạn ấy đã tham gia rất nhiều dự án tình nguyện trong suốt 4 năm đại học.

Chắc chắn bạn ấy không có vấn đề nào đáng kể với việc đọc hiểu Tiếng Anh. Chỉ là, nếu bạn ấy chịu đọc kĩ hơn một chút, chịu tìm kiếm những người trong cuộc hơn một chút, và bản lĩnh hơn một chút, tôi đã có thể đón nhận bạn ấy như một Chevener.

Vâỵ đó, săn học bổng hơn kém nhau nhiều khi ở lợi thế thông tin. Muốn có thông tin, không chỉ kĩ năng tìm kiếm và hiểu thông tin phải tốt, tâm lý còn phải vững vàng. Việc biết đọc – literacy không đơn thuần dừng lại ở việc nhận biết được các từ ngữ hay đánh vần. William S. Gray đưa ra một định nghĩa cho UNESCO, rằng học cách đọc đồng nghĩa với “việc thu nạp những kĩ năng ngôn ngữ, nhận thức, và máy tính để đạt được các mục tiêu thực tế trong các điều kiện văn hóa nhất định” (Oxford University Press, 1998). Nói cách khác nó là functional literacy. Nhưng khi các đối thủ cạnh tranh đều đạt được các kĩ năng đó, việc thắng-thua sẽ được quyết định bởi thái độ và tâm lý.

Phản chiếu

Một bạn tự đánh giá mình giỏi tiếng Anh, kĩ năng học tập bình thường, tư duy cũng không có gì sâu sắc, khi được học bổng sẽ giải mã tiêu chí của học bổng rằng học bổng này dành cho những người còn yếu về kĩ năng và kiến thức, và phải là những người đó mới xứng đáng được học bổng.

Một bạn khác rất giỏi về nghiên cứu hàn lâm, tiếng Anh tốt, khi không được học bổng lại cho rằng học bổng không công bằng, rằng những người xuất sắc đang phải miễn cưỡng nhường học bổng cho những người ở vùng kém phát triển hơn.

Một bạn đã giành được học bổng có tiêu chí “leadership” sẽ cho rằng phải tự lãnh đạo bản thân tốt như bạn ấy mới là có tố chất lãnh đạo.

Còn tôi, một người đã hướng dẫn cho vài chục người giành được học bổng toàn phần, cho rằng mọi người đều cần ĐỌC nhiều hơn nữa.

Đọc để hiểu rằng thật ngớ ngẩn khi coi cách của mình là chuẩn, để rồi áp đặt lên góc nhìn của cả một tổ chức. Một lần mình gặp may, không có nghĩa là lần sau mình cũng gặp may hay người khác cũng gặp may.

Đọc để thấy rằng sự khác biệt quan trọng và đáng được tôn trọng thế nào, rằng tư duy thô nhám của bản thân có thể giết chết cơ hội của chính mình và người khác ra sao.

Đọc để nhận ra rằng những định nghĩa của bản thân về “sự xứng đáng” còn hạn hẹp, cạn cợt và thô nhám ra sao.

Đọc để nhận ra rằng công việc của người xét duyệt hồ sơ trước hết là tìm ra những điểm sáng, điểm khác biệt. Họ cũng hiếm khi bận tâm đến những cái chúng ta cho là “chuẩn”. Họ hiểu rõ hơn ai hết rằng càng quan tâm đến nhiều thứ “chuẩn” cụ thể và “thực tế” như vậy, họ sẽ chỉ càng làm giảm cơ hội của chính họ: cơ hội tìm được người phù hợp. Nếu có một thứ gì đó không đổi, hẳn đó là mục tiêu cuối cùng của họ: lợi ích cho sự phát triển dài hạn.

Người thắng cuộc trong các cuộc đua dài luôn là người quyết tâm liên tục phá vỡ các giới hạn.

Phá vỡ giới hạn

Nhưng đó không phải câu chuyện rỉ vào tai nhau cho vui. Người ta chỉ nhận ra nó khi gặp phải khó khăn thực sự và phản chiếu câu chuyện đó lên các thất bại. Tôi khâm phục và tâm đắc cách Angela Duckworth định nghĩa tố chất thành công “grit”. Bởi vì, tôi ghét cay ghét đắng việc suốt ngày rao giảng về “thành công và truyền cảm hứng” trong khi cảm hứng chỉ là một thứ nhất thời. Những người làm ra điều gì đó có giá trị dài hạn luôn phải giữ được niềm tin ngay sau những thất bại.

Tôi dám viết về học bổng và sự chuẩn bị, bởi vì tôi đã thất bại những cú thật đau trong cả hai việc này.

Năm 2006, tôi đặt chân vào trường Đại học Kiến trúc. Hơn 10 năm sau, tôi bắt đầu lại ở một công việc không liên quan đến kiến thức nền nào về kiến trúc, ngay cả khi đã có bằng thạc sỹ từ một cơ sở giáo dục hàng đầu. Đó là thất bại lớn đầu tiên về sự chuẩn bị.

Năm 2013, tôi đi học viết. Mỗi tuần tôi đọc ít nhất 5 bài báo dài khoảng 1000 từ, rồi tóm tắt lại trong vòng 8 câu mà không dùng lại keyword trong bài. Quan trọng hơn, tôi còn viết luận. Thầy chỉ ra trong những bài viết đầu tiên của tôi chi chít lỗi về lập luận và tư duy. Tôi gạch đi, viết lại đến khi được thì thôi.

Năm 2015, 3 học bổng từ chối tôi. 2 trong số đó loại tôi ngay từ vòng hồ sơ. Nhưng từ đó, tôi nhận ra 2 điều: không phải cái gì cũng phù hợp với mình, và nỗ lực chuẩn bị hồ sơ của mình chưa bao giờ đủ. Từ đó, tôi không còn định nghĩa “sản phẩm để đời”. Một thư xin học bổng, sau khi đã được nộp, sẽ chỉ là bàn đệm cho một sản phẩm tốt hơn.

Chính đó là lúc tôi nhận ra mình phải đọc nhiều hơn nữa. Những bức thư xin học của sinh viên Mỹ khiến cho tôi tự do lựa chọn hơn mỗi lúc đặt bút viết. Những bài báo xuất sắc mà tôi xin được từ giáo sư Steele cho đến giờ vẫn thỉnh thoảng được tôi đọc để khởi động bộ não trước khi đặt bút viết kể chuyện.

Và tôi cảm thấy buồn một cách kì lạ trước sự thô vụng của nhiều văn bản mà người Việt Nam vẫn chia sẻ với nhau như những chuẩn mực. Tôi thở dài trước những phát biểu về ước mơ muốn trở thành học giả, nhưng chưa một lần thực sự ngồi học đọc và viết luận tiếng Anh nghiêm túc, chứ đừng nói đến học phương pháp nghiên cứu. Tôi thấy sự lười biếng trong việc đọc.

Thất bại của em là gì?

Tôi vẫn nhớ có một nghe anh Hải kể chuyện ở Impactus. Anh luôn hỏi một câu khi phỏng vấn xin việc: “Em có thể kể về một thất bại của mình được không?”

Anh nói rằng nếu họ không thể kể được, thì khả năng cao là họ không dám đương đầu với các khó khăn và nguy cơ. Tôi lại nghĩ rằng anh còn muốn biết cách người ta đứng lên và học hỏi sau thất bại.

Mà một trong những cách học đỡ tốn kém nhất, là đọc.

Tài liệu tham khảo

Oxford University Press. (1998). Concise Oxford Companion to the English Language. Oxford University Press. Retrieved November 29, 2017, from:

http://www.encyclopedia.com/humanities/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/functional-literacy

 

Advertisements

5 Comments

  1. Cũng giống như nhiều bài khác của anh Long, bài này cũng mang một màu sắc rất riêng, khiến người đọc thấy “giật mình cảnh tỉnh”, thấy (ít nhiều) “thấm thía” khi phải ngẫm lại những điều mà có thể bản thân luôn lầm tưởng.

    Cảm ơn anh Long vì những bài viết tâm huyết!

    p/s: Em đang hiểu “computational skills” là “kỹ năng tính toán” thay vì “kỹ năng máy tính”.
    Không biết anh nghĩ sao ạ.

    Liked by 2 people

  2. Em thực sự thích cái nhìn rất thực tế của anh. Bản thân em thấy đó là cái mà các ứng viên apply học bổng cần có. Em cũng cảm ơn những bộc bạch rất chân thành về chuyện thất bại của anh nhé. Vì nếu không thế, chắc người ta chỉ nhìn thấy kết quả cuối cùng mà không thấy được quá trình nỗ lực.
    Tiện đây, anh Long có thể chia sẻ cho em về quá trình học viết mà anh đề cập được không ạ? Cái này em đang quan tâm. Em cảm ơn anh nhiều!

    Liked by 1 person

  3. Dạ, em cảm ơn anh Long rất nhiều. Bài viết nào của anh em cũng đọc kĩ và nhìn lại bản thân.
    Em cũng có cùng câu hỏi như bạn Anh Hoang, anh Long có thể chia sẻ các cách đọc và viết để luyện tư duy không ạ? Hoặc anh đã học ở thầy nào hay các course nào, em có thể tìm học ạ? Cảm ơn anh một lần nữa và chúc anh nhiều sức khỏe để tiếp tục con đường của mình 🙂

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s