Đặc quyền Vinglish hay RP phiên bản Tiếng Việt?

Disclaimer: Tôi không phải giáo viên TESOL hay nhà ngôn ngữ học nên sẽ chẳng có bằng cấp nào để chứng minh kiến thức của mình. Nhưng nếu bạn tin một người đã dành gần 20 năm để học ngoại ngữ, sáng nào cũng tập khạc nhổ, phun phì phì như trẻ 1 tuổi phun nước bọt, và kêu quạc quạc như con vịt ngạt mũi, thì bạn có thể đọc vô tư.

Đây cũng không phải một bài viết hàn lâm, và tôi sẽ cố tránh việc phải dùng những từ khủng khiếp như “tính tường minh” vào bài viết. Tuy nhiên, tôi sẽ đưa vào khá nhiều chứng cứ và trích dẫn khoa học, để cho thấy những gì tôi viết có cơ sở. Bài viết sẽ rất dài và động đến những vấn đề có thể đòi hỏi nhiều suy nghĩ hơn đọc báo lá cải một chút. Âu cũng là cái liễn, nếu ai đó muốn nghiêm túc luyện tập để đạt giọng gần với tiếng Anh bản ngữ.

——————–

Do quá trình học ngoại ngữ rất lung tung và không có giáo viên về phát âm, giọng tiếng Anh của tôi là một thứ hỗn hợp giữa Anh – Việt – Pháp. Bất kể đa số người Anh và Mỹ vẫn có cảm giác tôi có giọng Anh-Anh, tôi vẫn luôn nhận giọng tiếng Anh của mình là giọng Vinglish hỗn tạp (mixed). Thực ra đó là một đặc quyền của người Việt. Tuy nhiên, vẫn luôn tồn tại câu hỏi “Vietnamese accent, British accent, or American accent – chọn cái nào?”

Tôi không chắc có công trình nghiên cứu khoa học nào trả lời được 2 câu hỏi này. Tuy nhiên, trong chừng mực nghiên cứu cùng kinh nghiệm học tập và làm việc của mình, tôi nhận thấy có một số vấn đề mà người bắt đầu học ở tuổi trưởng thành cần nhận thức trước khi luyện tập để tiệm cận giọng bản ngữ.

Continue reading “Đặc quyền Vinglish hay RP phiên bản Tiếng Việt?”

Chuẩn bị du học 1: Bảng xếp hạng không phải la bàn vàng

Tôi đích thị là một đứa ưa danh vọng phù phiếm. Thế nên khi Archdaily đăng lại Bảng xếp hạng 100 trường kiến trúc tốt nhất thế giới của Quacquarelli Symonds, tôi phải cắm đầu vào ngay xem Đại học Nottingham đứng ở đâu.

Ơ kìa cái gì mà No. 80, tụt hạng à?

Tụt hạng là đúng rồi còn gì nữa? University of Nottingham được mấy ai biết, làm sao so với Columbia University hay Stanford University chễm chệ ở vị trí 12 với 23. Dưới Top 50 còn đó New York University hơn trường Nottingham cả chục bậc. New York nổi tiếng hơn Nottingham, cự cãi gì?

Nhưng sự thật nó không như vậy :v
Continue reading “Chuẩn bị du học 1: Bảng xếp hạng không phải la bàn vàng”

Đầu năm đọc báo

Làm công việc mentor là gì? Là không ít lần kiềm chế sự tăng-xông khi mentee mếu máo: “Em không biết phải viết (kể chuyện) bằng từ nào cho nó không nhàm chán.”

Cái này là cái tội lười đọc -_-

Thực ra nguyên tắc đọc rất đơn giản: muốn viết được cái gì, đọc nhiều cái đó. Tôi thường không đọc nhiều, nhưng mỗi lần viết cái gì đều đọc cái tương tự để tìm cảm hứng.

Viết nghị luận về các hiện tượng có thật thì đọc sách về khoa học xã hội. Hồi viết luận văn, mỗi ngày tôi ngồi trong thư viện lại lôi sách của Michael Sanders ra đọc.

Viết những thứ hư cấu thì đọc truyện hư cấu. Hồi viết Hanoi Introversion, tôi đọc To Kill a Mockingbird của Harper Lee.

Viết những thứ vừa có thật nhưng lại phải có kịch tính như truyện, phải đọc cả hai thứ trên, hoặc là đọc BÁO (credit to Mr. Nam :v ).

Dưới đây là danh sách các bài báo mà Janet Steele, giảng viên tại Đại học George Washington yêu cầu sinh viên đọc (Hồi nào đó bà có sang Việt Nam. Tôi đi nghe giảng một buổi cho vui, rồi thấy cũng hay nên nhớ tên. Sau này gửi mail xin các bài báo mà bà sưu tầm để làm bài giảng, bà cho liền :3)

Continue reading “Đầu năm đọc báo”

False failure

20 years ago, Benson was a promising architect. Having two master’s degrees from UCL, Benson was working for a renowned firm in London.

One day, his team was tasked with designing a skyscraper in the city. The concept was intriguing. Instead of a boring flat façade, they proposed a curved glass front. They named it “walkie-talkie”.

The construction was fast. The skyscraper was inaugurated only 3 years after the design stage.

But then, one day the client called: “Come here and see what you have done”. When they arrived, the building was normal. Everything was going so well, except the client gazing at them like a lion preparing to rip a gazelle apart. He pointed at a car outside the “walkie-talkie”. It was deformed and marked off with police tapes.

It turned out that the curved glass façade became a giant concave mirror, focusing sunlight on the car. Where there is a concentrated sun ray, there is extreme heat. It melted the car. Simple physics.

That year, the “walkie-talkie” was given an award – The Worst New Building in the UK. What’s worse, Benson’s firm was sued by the client.

Fortunately, he walked away with a clean track record. But that marked the end of the company. He lost almost everything, his reputation, his job, and his career.

But Benson was undeterred. He applied for his third master’s course at the University of Cambridge. His experience with the walkie-talkie was put into words in his application essay scoring him a full scholarship.

Last year, I took a master’s programme at the University of Nottingham. As luck would have it, Benson was my course convenor and mentor. He has been taking charge of this master’s programme for 10 years. Whenever I think of the man, I recall his catchphrase: “You cannot sell your architecture by bullshitting”.

(This story is fiction yet based on a real incident. In 2013, the infamous “walkie-talkie” melted some parts of a Jaguar car. The owner of the building paid £1,000 to the man whose car parts were melted.)

Hanoian introversion

Half past seven on a Friday morning, mildly cold after erratic drizzle. The slight chill wrapped my limbs and back as I calmly strolled across the courtyard at 17 Ly Nam De Street, in one corner of which stood my wife’s scooter ready for her commute.

But there was something unusual in the background. Just as I turned my eyes around, a little thing sprinted from a bush and sat oddly petrified just some steps from where I was. Apparently, his slick dash was too eye-catching amid the static lot. It was a squirrel.

Having lived in the downtown of Hanoi for 28 years, this was the first time I saw such a thing. Not only as squirrels were elusive, it is also because the urban sprawl left them not much room to survive. The encounter with the spiky-eared rodent was unusual, yet so sweet that it hooked my sight until a wake-up call came.
Continue reading “Hanoian introversion”

[ACADEMIC & CREATIVE WRITING] PHẦN 1: VỠ LÒNG

(*) Đây không phải là một bài viết hàn lâm.
Bài viết này hướng tới việc giúp đỡ những người có ý định đi du học ở những nơi có nền giáo dục hàn lâm tiên tiến, và có ý muốn thực sự nâng cao trình độ. Chắc chắn loạt bài này sẽ không giúp được ai đó trở thành người viết giỏi ngay lập tức. Nhưng nếu bạn chưa biết mình cần bắt đầu ở đâu, hãy đọc.
(Tác giả sẽ rất thẳng thắn. Ai dễ tự ái không nên đọc)
Continue reading “[ACADEMIC & CREATIVE WRITING] PHẦN 1: VỠ LÒNG”

[Con đường nước Anh] Kỳ 9: Những câu chuyện ở Khoa Kiến trúc Đại học Nottingham

CHUYỆN 1: BENSON

Benson là người phụ trách chương trình mà tôi theo học, cũng là người giảng dạy và theo sát chúng tôi suốt học kì 1. Ông là người Hồng Kông, đã đến nước Anh được gần 20 năm.

Benson là một người rất thực tế, và đương nhiên có khả năng làm việc cũng như xử lý thông tin khủng khiếp. Ông từng là một trong những sinh viên hiếm hoi tốt nghiệp chương trình đào tạo bằng kép của University College London. Trong chỉ 2 năm, ông đồng thời lấy cả bằng Master Architect RIBA Part II lẫn Specialist Master Architect: Space Syntax, Light and Lighting (Chương trình RIBA Part II tiêu chuẩn vốn đã có độ dài 2 năm và có yêu cầu đầu vào rất cao ở tất các trường có uy tín về đào tạo kiến trúc sư). Sau này Benson không làm PhD mà lấy thêm bằng Master Architect Environmental Design ở University of Cambridge. Ông hiểu rằng mình không cần thêm một bằng cấp nặng về lý thuyết, mà phải thực sự hiểu về vật lý kiến trúc.

Continue reading “[Con đường nước Anh] Kỳ 9: Những câu chuyện ở Khoa Kiến trúc Đại học Nottingham”

[My UK Path] Episode 8: The Relay

My dad rarely shares his childhood stories. While I have lived with my parents for 27 years, still there are many accounts that I have never heard until I am married. Because he would only recount some pieces in his unusual moments of excitement, when the two dads, my father and father-in-law, enjoy their drinks in a family feast.

“F***, you did it; then why can’t I?” – It was his thought when he first saw a fresh Vietnamese graduate who had just returned after his overseas study. The guy was looking very smart in his suit and tie, arousing a fit of jealousy in my dad. My father, who had always been malnourished, determined that he would go abroad for his first degree.
Continue reading “[My UK Path] Episode 8: The Relay”

[Con đường nước Anh] Kỳ 7: Học kiến trúc ở Vương quốc Anh khác học kiến trúc ở Việt Nam chỗ nào?

Bài viết này dựa trên kinh nghiệm học Thạc sỹ kiến trúc về Thiết kế môi trường ở Đại học Nottingham, 5 năm học kiến trúc bậc đại học và 2 năm học thạc sỹ kiến trúc tại Đại học Kiến trúc Hà Nội. Có thể nó sẽ có giá trị với nhiều ngành khác nữa chứ không riêng ngành kiến trúc. Mọi người, đặc biệt những người đang hành nghề kiến trúc hoặc làm công việc có liên quan xin hãy share giúp 🙂
1. Nghiên cứu tiền lệ (Precedent Study)
Bất cứ đồ án thiết kế chuyên nghiệp nào cũng có nghiên cứu tiền lệ. Sau khi nghiên cứu nhiệm vụ thiết kế, kiến trúc sư nghĩ xem mình cần thiết kế ra một không gian phục vụ công năng, mục đích, và tạo ra cảm giác nào, dựa vào đó mà tìm những tiền lệ về kiến trúc cũng đạt được những đặc điểm đó. Học tập từ những tiền lệ này rất quan trọng, vì kiến trúc là một môn nghệ thuật nhưng không thể là trò nói suông theo chủ quan của kiến trúc sư được. Ví dụ, khi nhận đồ án thiết kế một khu ở bền vững, tôi không vẽ bừa ra mấy cái nhà rồi bảo đó là nhà ở bền vững. Tôi phải lên mạng tìm kiếm xem ở vùng có khí hậu tương tự người ta làm như thế nào, phân tích cái hay cái tốt của họ ở đâu mà học tập. Nhà ở bền vững ở Nantes này là một ví dụ.

Continue reading “[Con đường nước Anh] Kỳ 7: Học kiến trúc ở Vương quốc Anh khác học kiến trúc ở Việt Nam chỗ nào?”